Bệnh sỏi mật và cách điều trị: Những thông tin không nên bỏ qua

5 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 5.00 (1 Vote)

Rất nhiều người thường biết hoặc nghe nói đến sỏi mật nhưng chưa thực sự hiểu về bệnh sỏi mật và cách điều trị, làm sao để phòng ngừa sỏi mật tái phát,… Để được giải đáp những băn khoăn, thắc mắc này hãy đọc bài viết sau đây.

Trước khi hiểu về bệnh sỏi mật và cách điều trị, hãy tìm hiểu nguồn gốc của sỏi mật

Sỏi mật là những “viên đá” có hình dạng và kích thước rất khác nhau, hình thành từ những thành phần trong dịch mật như muối mật, bilirubin và cholesterol. Sỏi mật xuất hiện khi có sự mất cân bằng của các thành phần trên. Một số nguyên nhân dẫn đến sự hình thành sỏi mật: giảm co bóp túi mật, dịch mật ứ trệ, nhiễm khuẩn đường mật, người béo phì, tiểu đường, chức năng gan kém, phụ nữ mang thai hoặc do thuốc hạ mỡ máu, phụ nữ dung liệu pháp thay thế hormone,…

Có mấy loại sỏi mật?

Sỏi mật được phân chia thành nhiều loại tùy theo nguồn gốc hình thành hoặc theo vị trí sỏi.

Theo nguồn gốc hình thành sỏi mật được phân chia thành:

– Sỏi mật cholesterol: Được hình thành do quá dư thừa cholesterol trong dịch mật (cholesterol chiếm hơn 70% lượng dịch mật), cholesterol dư thừa không thể hòa tan được trong dịch mật, từ đó kết tinh lại cùng với các thành phần khác tạo thành sỏi. Sỏi cholesterol chiếm 60% các dạng sỏi mật hiện nay.

– Sỏi sắc tố mật: Thành phần sỏi chủ yếu là bilirubin và các muối canxi bilirubin (hàm lượng cholesterol dưới 30%). Sự hình thành sỏi sắc tố mật thường liên quan đến niễm trùng mãn tính đường mật hoặc nhiễm ký sinh trùng (như giun sán) hoặc mắc các bệnh về máu dẫn đến tăng lượng bilirubin (do hồng cầu bị phá hủy nhiều).

– Sỏi hỗn hợp: Gồm nhiều thành phần, được tạo thành khi hàm lượng cholesterol chiếm 30-70 % dịch mật.

Phân loại theo vị trí, sỏi mật được chia thành:

– Sỏi túi mật: Sỏi nằm trong túi mật, sỏi túi mật thường là sỏi cholesterol

– Sỏi ống mật chủ: Sỏi nằm trong ống mật chủ. Sỏi ống mật chủ thường là sỏi gan từ đường dẫn mật hoặc sỏi túi mật theo dịch mật rơi xuống ống mật chủ, ít khi sỏi hình thành ngay ở ống mật chủ.

– Sỏi gan (sỏi đường mật trong gan): Sỏi hình thành ở đường dẫn mật trong gan, nhiều kích thước và thường là sỏi sắc tố mật.

Sỏi mật có thể nằm ở nhiều vị trí khác nhau

Sỏi mật có thể nằm ở nhiều vị trí khác nhau

Bệnh sỏi mật và các triệu chứng của sỏi mật

80% các trường hợp sỏi mật không có triệu chứng, đặc biệt là sỏi túi mật. Tuy nhiên, nếu mắc sỏi gan hoặc sỏi ống mật chủ thì dù sỏi có kích thước không lớn lắm nhưng cũng có thể đã gây đau.

Các dấu hiệu, triệu chứng của sỏi mật có thể khá mơ hồ như chán ăn, sợ mùi dầu mỡ hoặc đắng miệng, khô họng, buồn nôn, đầy trướng, chậm tiêu sau mỗi bữa ăn. Khi sỏi mật gây biến chứng người bệnh có thể có triệu chứng như:

- Đau bụng: Đau do sỏi mật thường khởi phát sau bữa ăn nhiều dầu mỡ, hoặc vào ban đêm khiến người bệnh mất ngủ. Vị trí đau ban đầu có thể hạ sườn phải, sau đó lan ra bả vai phải và ra sau lưng. Cơn đau có thể âm ỉ nhưng cũng có thể rất dữ dội, kéo dài vài giờ cho đến vài ngày.

- Sốt: Đau do sỏi mật thường kèm theo sốt do viêm đường mật, túi mật. Sốt có thể xảy ra trước hoặc sau cơn đau, kéo dài vài giờ.

- Vàng da: Vàng da, vàng mắt xảy ra sau đau và sốt 1 - 2 ngày do sỏi gây tắc mật, kèm theo ngứa, nước tiểu vàng, phân bạc màu. Vàng da thường xuất hiện khi sỏi nằm trong đường dẫn mật trong gan hoặc sỏi ống mật chủ, những trường hợp mắc sỏi túi mật đơn thuần rất ít khi gây vàng da.

Bệnh sỏi mật và cách điều trị: phương pháp nào hiệu quả

Thông thường nếu sỏi mật không gây triệu chứng thì người bệnh có thể chung sống hòa bình với sỏi mà không cần điều trị. Tuy nhiên, ở một số người có nguy cơ gặp sỏi mật gây biến chứng trong tương lai thì các bác sĩ sẽ đề nghị điều trị ngay cả khi sỏi chưa gây triệu chứng, chẳng hạn: người tiểu đường, người mắc một số bệnh về gan,…

Tùy theo từng trường hợp cụ thể và tình trạng sức khỏe của người bệnh mà có các phương pháp điều trị sỏi mật khác nhau.

Điều trị sỏi mật bằng nội khoa

Nếu sỏi mật không gây đau hoặc chỉ gây triệu chứng thoáng qua và không thường xuyên, bạn có thể được kê đơn dùng thuốc giảm đau để cải thiện triệu chứng và đưa ra lời khuyên về chế độ ăn uống lành mạnh để hạn chế triệu chứng và theo dõi thêm.

Trong một số trường hợp các bác sĩ sẽ chỉ định cho người bệnh dùng thuốc làm tan sỏi như a xít Ursodeoxycholic nếu sỏi mật cholesterol kích thước nhỏ hơn 2 cm, không bị canxi hóa. Tuy nhiên, thuốc tan sỏi ít được sử dụng do: hiệu quả kém (chỉ có tác dụng với sỏi cholesterol và hầu như không hòa tan được sỏi sắc tố mật), thời gian dài (lên đến 2 năm), sỏi có thể tái phát sau khi ngừng điều trị, ngay cả khi sỏi đã tan hoàn toàn.

Thuốc Ursodeoxycholic a xít đôi khi cũng được kê toa để phòng ngừa sỏi mật ở những người có nguy cơ cao, chẳng hạn như người đã phẫu thuật giảm cân.


Bệnh sỏi mật và cách điều trị sẽ khác nhau tùy từng trường hợp cụ thể

Bệnh sỏi mật và cách điều trị sẽ khác nhau tùy từng trường hợp cụ thể

Điều trị sỏi mật bằng phương pháp can thiệp hoặc phẫu thuật

Nếu sỏi mật gây các triệu chứng trầm trọng hơn và xảy ra thường xuyên, có thể cần phải phẫu thuật hoặc can thiệp loại sỏi.

Bệnh sỏi túi mật và cách điều trị: Phẫu thuật cắt túi mật

– Phương pháp cắt túi mật nội soi: Đây là phương pháp hiện nay thường dùng phổ biến, rút ngắn thời gian nằm viện và hồi phục sức khỏe nhanh. Hiện tại, có nhiều phương pháp mổ nội soi có thể là mổ nội soi truyền thống hoặc mổ nội soi một lỗ, giúp giảm tối đa sự xâm lấn, kích thước vết mổ nhỏ, đảm bảo tính thẩm mỹ và sức khỏe cho người bệnh.

– Phương pháp cắt túi mật bằng mổ hở: áp dụng trong trường hợp mổ nội soi thất bại hoặc viêm mủ túi mật, mổ cấp cứu. Phẫu thuật mổ hở cắt túi mật cũng đem lại hiệu quả như phẫu thuật nội soi, nhưng thời gian hồi phục lâu hơn và vết mổ dài hơn. Hầu hết trường hợp người bệnh phải nằm viện trong 5 ngày và thường mất đến 6 tuần để hồi phục hoàn toàn.

Đọc thêm: Phẫu thuật cắt túi mật

Cách điều trị sỏi đường mật trong gan và ống mật chủ.

– Phương pháp nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP): được áp dụng để lấy sỏi qua nội soi ngược dòng cắt cơ vòng oddi, áp dụng với sỏi ở ống mật chủ, sỏi nhỏ dưới 1,5cm, phương pháp này giúp tránh được phẫu thuật. ERCP còn có thể được sử dụng như một phương pháp chẩn đoán sỏi đường mật. Đôi khi, người bệnh có thể phải đặt stent đường mật để giúp dịch mật lưu thông và tạo đường hầm để lấy sỏi dễ dàng hơn trong những lần can thiệp tiếp theo.

Viêm tụy, tổn thương đường mật,... là những biến chứng thường gặp nhất khi thực hiện phương pháp này, tuy nhiên, nguy cơ gặp rủi ro sẽ giảm nếu thực hiện ở những cơ sở uy tín.

– Phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể bằng sóng, nội soi tán sỏi (thường kết hợp với nội soi mật tụy ngược dòng): Áp dụng với sỏi đường mật kích thước lớn.

– Phẫu thuật mổ phanh để lấy sỏi: Thường áp dụng cho những trường hợp không thể phẫu thuật lấy sỏi mật nội soi, người cao tuổi. Phương pháp này có thời gian hồi phục chậm hơn mổ nội soi.

Sỏi mật là bệnh phổ biến, gặp ở nhiều người, nhiều độ tuổi. Hiểu rõ về bệnh sỏi mật và cách điều trị sẽ giúp bạn lựa chọn được phương pháp điều trị đúng đắn nhất, tránh nguy cơ tái phát sỏi cũng như các triệu chứng hoặc biến chứng khó chịu mà sỏi gây ra.

Biên tập viên sức khỏe Đông Tây

Tham khảo:

https://www.nhs.uk/conditions/gallstones/treatment/
https://www.aafp.org/afp/2014/0515/p795.html

 



Gửi bình luận

(Bấm vào đây để nhận mã)