Bệnh sỏi mật ngày càng trở nên phổ biến, nhất là ở các nước đang phát triển như nước ta. Sỏi có thể gây ra các triệu chứng như đau hạ sườn phải, đầy trướng, chậm tiêu… nặng hơn có thể gây viêm túi mật, viêm đường mật, viêm gan, xơ gan… Do đó, hiểu rõ về bệnh sẽ giúp bạn lựa chọn đúng phương pháp để điều trị hiệu quả.

Nguyên nhân gây bệnh sỏi mật?

Dịch mật được gan sản xuất, bao gồm nhiều thành phần như cholesterol, bilirubin, nước, muối mật, lecithin… Khi có sự bất thường trong quá trình sản xuất dịch mật, ứ trệ dịch mật kéo dài hoặc nhiễm khuẩn dịch mật, sỏi mật có thể được tạo thành.

Soi-mat-hinh-thanh-o-nhieu-vi-tri-do-nhieu-nguyen-nhan-khac-nhau

Sỏi mật hình thành ở nhiều vị trí do nhiều nguyên nhân khác nhau

Một số nguyên nhân thường gặp gây bệnh sỏi mật:

- Dịch mật chứa nhiều cholesterol: Cholesrol được đào thải ra khỏi cơ thể qua dịch mật. Trong dịch mật, nhờ có các loại acid mật và lecithin mà cholesterol được hòa tan hoàn toàn. Nhưng khi lượng cholesterol được đào thải quá nhiều, hoặc quá ít acid mật, cholesterol trở nên quá bão hòa trong dịch mật, có thể kết tinh lại với nhau tạo thành sỏi.

- Quá nhiều bilirubin trong dịch mật: Các tế bào hồng cầu chết đi sẽ giải phóng ra bilirubin. Ở những người mắc bệnh như: xơ gan, thiếu máu huyết tán bẩm sinh, bệnh hồng cầu hình liềm… sẽ tăng đào thải bilirubin ra ngoài qua dịch mật. Quá nhiều bilirubin sẽ gây ra bệnh sỏi mật.

- Ứ trệ dịch mật kéo dài: Túi mật, đường mật cần được co bóp để tống đẩy dịch mật xuống ruột non. Nếu vận động đường mật bị rối loạn, hoặc mắc một số bệnh như polyp túi mật, ung thư đường mật, dị tật đường mật bẩm sinh… sẽ làm cho dịch mật bị ứ trệ, góp phần hình thành sỏi.

- Nhiễm khuẩn dịch mật: Khi có một lý do nào đó khiến giun, sán (thường gặp là giun đũa) đi lên đường mật, chúng sẽ mang theo vi khuẩn. Những vi khuẩn này làm thay đổi khả năng hòa tan của bilirubin trong dịch mật. Lâu ngày bilirubin, cùng với trứng và xác giun có thể tập trung với nhau tạo thành nhân sỏi.

Có những loại sỏi mật nào?

Tùy thuộc vào thành phần cấu tạo và vị trí, sỏi mật được phân loại thành:

- Theo vị trí: sỏi gan (sỏi đường mật trong gan, sỏi ống dẫn mật trong gan), sỏi ống mật chủ, sỏi túi mật và sỏi cổ túi mật

- Theo cấu tạo:

•    Sỏi cholesterol: là loại sỏi phổ biến nhất, thường nằm trong túi mật, có màu vàng, được cấu tạo chủ yếu từ cholesterol và một số thành phần khác.

•    Sỏi sắc tố mật: là những viên sỏi màu nâu hoặc đen, được hình thành khi dịch mật chứa quá nhiều bilirubin. Sỏi sắc tố mật thường là sỏi trong gan và sỏi ống mật chủ.

Các triệu chứng của bệnh sỏi mật

Hơn 80% các trường hợp bị bệnh sỏi mật đề không có triệu chứng, đặc biệt là sỏi túi mật, do đó đây còn được gọi là căn bệnh “sỏi im lặng”. Một số trường hợp nhạy cảm có thể thấy các triệu chứng không rõ ràng như đau nhẹ hạ sườn phải, sốt nhẹ, đắng miệng, buồn nôn, nôn hoặc đầy trướng, khó tiêu.

Thường khi người bệnh nhận thấy triệu chứng là đã bị biến chứng của sỏi mật, với những dấu hiệu đột ngột như đau, sốt. Cơn đau do sỏi mật thường khởi phát hoặc tăng nặng về đêm, sau các bữa ăn có nhiều dầu mỡ hoặc đồ ăn nhiều cholesterol. Đau thường xuất hiện ở góc 1/4 phía bên phải của bụng, sau đó lan ra lưng hoặc ra bả vai phải. Thời gian đau tùy thuộc từng người, có thể đau âm ỉ kéo dài một vài giờ hoặc đau giữ dội kèm ói mửa, sốt cao. Sau khoảng 1-2 ngày người bệnh có thể xuất hiện thêm các dấu hiệu như vàng da, vàng củng mạc mắt, nước tiểu sậm màu, phân có màu đất sét…

Các biến chứng của bệnh sỏi mật

Dịch mật giúp tiêu hóa chất béo, đồng thời là dung môi đào thải các chất độc hại do gan sản xuất. Khi sỏi gây ứ trệ dịch mật, về lâu dài, các chất độc tồn ứ lại trong gan có thể gây hại cho gan, làm tổn thương đường mật, túi mật.

Sỏi túi mật và sỏi ống mật chủ có thể gây ra các biến chứng như: Viêm túi mật/đường mật cấp hoặc mạn tính, viêm tụy, nặng hơn nữa là áp xe túi mật, hoại tử túi mật, dịch mật bị rò ra phúc mạc gây nhiễm trùng phúc mạc, nhiễm khuẩn huyết… Đây đều là những biến chứng nguy hiểm, nếu chậm trễ trong việc phát hiện và xử lý, có thể dẫn tới tử vong.

Đường dẫn mật trong gan rất nhỏ, khi sỏi phát triển trong gan sẽ gây ứ mật tại gan, làm xuất hiện các cơn đau, sốt liên tục, nặng có thể làm tổn thương đến chức năng gan, gây viêm gan, áp xe gan và cuối cùng có thể dẫn tới xơ gan, ung thư gan.

Các phương pháp điều trị bệnh sỏi mật

Các trường hợp sỏi không xuất hiện triệu chứng mà được phát hiện qua quá trình siêu âm hoặc CT-scan, thông thường sẽ không cần điều trị.

Nếu sỏi gây triệu chứng, tùy thuộc vào mức độ ứ trệ dịch mật, các bác sĩ sẽ lựa chọn các phương pháp điều trị khác nhau, như:

- Thuốc tây hòa tan sỏi: Để hòa tan sỏi mật, có thể sử dụng thuốc uống có bản chất là acid mật. Tuy nhiên thuốc chỉ có tác dụng được với sỏi túi mật, kích thước nhỏ và phải mất một thời gian dài có thể kéo dài đến 2 năm mới có hiệu quả, thậm chí đôi khi thuốc không phát huy tác dụng.

- Can thiệp hoặc phẫu thuật loại sỏi: Nếu sỏi mật gây ra các biến chứng nguy hiểm, bác sĩ sẽ đề nghị phẫu thuật cắt túi mật, hoặc can thiệp ERCP lấy sỏi đường mật. Sau cắt bỏ túi mật, dịch mật sẽ đổ trực tiếp từ gan vào ruột non có thể gây ra một số biến chứng trên đường tiêu hóa như đau, đầy trướng, khó tiêu, tiêu chảy…

Can-thiep-giup-loai-bo-soi-ong-mat-chu-ra-ngoai-duong-mat

Can thiệp giúp loại bỏ sỏi ống mật chủ ra ngoài đường mật

Mục tiêu trong việc điều trị sỏi mật là khơi thông dòng chảy của dịch mật, phòng ngừa biến chứng và ngăn ngừa tái phát sỏi. Mặc dù các phương pháp điều trị sỏi tây y như sử dụng thuốc làm tan sỏi hay phẫu thuật đều có những ưu điểm nhất định, tuy nhiên đây chỉ là giải pháp tình thế, không tác động được vào yếu tố cơ địa - căn nguyên khiến sỏi dễ tái phát.

Nhưng, bằng cách sử dụng các thảo dược truyền thống được áp dụng trong việc chữa trị các bệnh gan mật lâu đời tại các nước Á Đông, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng: bài thuốc gồm 8 thảo dược Uất kim, Chi tử, Hoàng bá, Sài hồ, Diệp hạ châu, Nhân trần, Chỉ xác, Kim tiền thảo mang lại hiệp đồng tác dụng, giúp điều chỉnh sự rối loạn trong quá trình sản xuất, lưu thông dịch mật, đồng thời làm tăng khả năng bào mòn và tống xuất sỏi mật. Ưu thế của bài thuốc này là đã tác động “trực diện” vào yếu tố cơ địa, tháo được “nút thắt” giúp ngăn ngừa tái phát sỏi mật hiệu quả.

Những giải pháp giúp phòng ngừa bệnh sỏi mật

- Không bỏ bữa: ăn đầy đủ tất cả các bữa trong ngày, nếu bỏ bữa sẽ làm tăng nguy cơ mắc sỏi mật do túi mật không được kích thích co bóp để tống đẩy dịch mật đi tiêu hóa thức ăn.

- Giảm cân từ từ: nếu cần giảm cân, chỉ nên giảm khoảng 0.5-1kg/ tuần, vì giảm cân nhanh chóng sẽ làm tăng nguy cơ hình thành sỏi mật tương tự như trường hợp bỏ bữa ăn.

- Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh: béo phì và thừa cân là hai đối tượng có nguy cơ mắc sỏi mật cao (sỏi cholesterol). Để đạt được một trọng lượng khỏe mạnh, hãy giảm lượng calo tiêu thụ hằng ngày, áp dụng chế độ ăn uống lành mạnh và thường xuyên luyện tập thể chất.

Sỏi mật hiện đã không còn là căn bệnh khó trị như trước. Điều căn bản là bạn cần phát hiện sớm bệnh, khi đó tùy thuộc vào mức độ nặng hay nhẹ mà cân nhắc các phương pháp điều trị khác nhau để mang lại hiệu quả tốt nhất.

Biên tập viên sức khỏe Đông Tây

Theo nguồn: http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/gallstones/basics/definition/con-20020461

Bình luận